EVFTA-Cam kết trong ngành thủy sản và cơ hội tại thị trường Bắc Âu Thị trường - Xúc tiến thương mại - 08:41 28-10-2020

Xóa bỏ ngay khoảng 50% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, trong đó phần lớn các sản phẩm thuế cao từ 6-22% được xóa bỏ về 0% như hàu, điệp, mực, bạch tuộc, nghêu, sò, bào ngư chế biến, tôm sú đông lạnh,…

Tình hình thương mại thủy sản của Việt Nam năm 2019

  • Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam với thế giới năm 2019: 8,54 tỷ USD;
  • Thị phần xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trên thế giới: 4,6%, đứng thứ 5 trên thế giới;
  • Tốc độ tăng trưởng lũy kế (CAGR) 2014-2019: 3,0%;
  • Sản phẩm xuất khẩu chính: cá ngừ, cá biển, cá tra, cá ba sa, tôm và các sản phẩm tôm, tôm thẻ chân trắng,…
  • Các thị trường xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc;
  • Xuất khẩu thủy sản sang EU28 năm 2019: 1,3 tỷ USD;
  • Xuất khẩu thủy sản sang các nước Bắc Âu và Latvia năm 2019: 11.919 tấn, tương đương 71,2 triệu USD.

Cam kết EVFTA về thuế quan đối với ngành thủy sản

EVFTA cam kết dành ưu đãi thuế nhập khẩu cho hàng thủy sản của Việt Nam như sau:

  • Xóa bỏ ngay khoảng 50% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, trong đó phần lớn các sản phẩm thuế cao từ 6-22% được xóa bỏ về 0% như hàu, điệp, mực, bạch tuộc, nghêu, sò, bào ngư chế biến, tôm sú đông lạnh,…
  • 50% số dòng thuế còn lại, thuế suất cơ sở từ 5,5-26%, sẽ được cắt giảm về 0% theo lộ trình 3-7 năm, như sản phẩm tôm, cá tra, cá ngừ,…
  • Riêng mặt hàng cá ngừ đóng hộp và Surimi (cá viên) áp dụng hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn/năm và 500 tấn/năm.

Lộ trình cắt giảm thuế đối với một số sản phẩm chính của Việt Nam

Mặt hàng

Lộ trình giảm thuế

Tôm

HS03 (shrimp & prawn): EIF hoặc lộ trình 3, 5 năm

HS16: 7 năm

Cá tra

Lộ trình 3 năm, trừ cá hun khói là 7 năm

Cá ngừ

HS03: EIF

HS16: TRQ với cá ngừ đóng hộp (11.500 tấn), 7 năm với thăn cá ngừ (loin)

Cua

Lộ trình 3 năm

Mực, bạch tuộc

EIF hoặc lộ trình 3 năm

Thủy sản khác

TRQ với surimi (HS1604.20.05)

Lộ trình 3-7 năm với các sản phẩm còn lại

Tôm

  • Ngay khi EVFTA có hiệu lực, thuế xuất khẩu một số mặt hàng tôm Việt Nam sang EU sẽ về 0%:

+ Tôm mã HS 03061100 (tôm hùm xanh ướp đá; tôm sú HOSO, DP đông lạnh; tôm sắt PD tươi đông lạnh; tôm mũ ni vỏ, nguyên con, xẻ đông lạnh…) từ mức hiện tại 12,5%;

+ Tôm mã HS 03061710 (tôm sú PD đông lạnh, tôm sú nguyên con HOSO đông lạnh, tôm sú tươi đông lạnh, tôm sú thịt đông lạnh, tôm sú HLSO tươi đông lạnh, tôm sú đông IQF, tôm thẻ thịt đông lạnh…) từ mức hiện tại 20%;

+ Tôm mã HS 03061791, 03061792, 03061793, 03061799 từ mức 12% hiện tại.

  • Sau 5 năm: tôm mã HS 03061794 sẽ giảm về 0% từ 18%;
  • Sau 7 năm: tôm mã HS 16052110 (tôm dạng bột nhão) và tôm mã HS 16052190 (tôm khác) sẽ được điều chỉnh từ mức 20% về 0%.

Cá ngừ

  • EU sẽ xóa bỏ thuế quan cho các sản phẩm cá ngừ tươi sống và đông lạnh (trừ thăn/philê cá ngừ đông lạnh mã HS0304) ngay khi hiệp định có hiệu lực;
  • Đối với các sản phẩm thăn/philê cá ngừ đông lạnh mã HS030487, EU sẽ xóa bỏ thuế quan cho Việt Nam theo lộ trình 3 năm, từ mức thuế cơ bản 18%;
  • Với các sản phẩm thăn/philê cá ngừ hấp (nguyên liệu để sản xuất cá ngừ đóng hộp), EU sẽ xóa bỏ thuế quan cho Việt Nam theo lộ trình 7 năm, từ mức thuế cơ bản 24%;
  • Riêng đối với các sản phẩm cá ngừ chế biến đóng hộp (như cá ngừ ngâm dầu đóng hộp, đóng túi, các sản phẩm cá thuộc họ cá ngừ đóng hộp…), EU sẽ miễn thuế cho Việt Nam trong mức hạn ngạch 11.500 tấn/năm.

Cam kết EVFTA về quy tắc xuất xứ đối với ngành thủy sản

Để được hưởng mức thuế ưu đãi như trong Hiệp định EVFTA đã cam kết, các sản phẩm thủy sản phải chứng minh được nguồn gốc xuất xứ.

Tiêu chí xuất xứ đối với thủy sản nguyên liệu và thủy sản chế biến trong EVFTA là xuất xứ thuần túy. Tức là thủy sản phải được sinh ra hoặc lớn lên tại một nước thành viên thuộc Hiệp định EVFTA.

Bên cạnh đó, theo quy tắc cộng gộp, Việt Nam được phép sử dụng mực và bạch tuộc nguyên liệu từ các nước ASEAN để sản xuất mực và bạch tuộc chế biến xuất khẩu sang EU, nếu thỏa mãn điều kiện:

  • Nguyên liệu này thuộc mã HS 030741 hoặc 030751 (Phụ lục III – Nghị định thư 1) sử dụng để sản xuất các sản phẩm có mã HS 160554 và 160555 (Phụ lục IV – Nghị định thư 1);
  • Nguyên liệu có xuất xứ từ các nước ASEAN có FTA với EU cam kết tuân thủ các quy định tại Nghị định thư 1 và có hợp tác hành chính cần thiết với EU để bảo đảm việc thực thi đầy đủ Nghị định thư 1 này với EU và giữa họ với nhau.

Các tiêu chí trên được coi là linh hoạt hơn so với GSP.

Cam kết về TBT, SPS

EVFTA chủ yếu bao gồm các cam kết chung hợp tác, minh bạch hóa trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật (TBT), để có thể xuất khẩu vào EU, hàng hóa phải tuân thủ các nguyên tắc TBT trong quá trình chế biến, đóng gói sản phẩm và bảo vệ môi trường.

EVFTA bao gồm các cam kết về thực thi các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS) đối với hàng hóa, đặc biệt là thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp. Ngoài ra có thêm cam kết về biện pháp SPS khẩn cấp gắn với các dịch bệnh và cam kết về giới hạn phạm vi địa lý của dịch bệnh.

EVFTA có một Chương riêng về thương mại và phát triển bền vững, với các cam kết về lao động, về môi trường, kinh doanh và quản lý bền vững các nguồn hải sản sống và sản phẩm nuôi trồng thủy sản; cam kết hợp tác chặt chẽ trong vấn đề IUU; cam kết hợp tác, trao đổi thông tin về các vấn đề liên quan tới việc kiểm soát, giám sát, thực thi các biện pháp quản lý đánh bắt hản sản.

Như vậy, mặc dù nhiều dòng thuế đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam về 0%, nhưng việc Việt Nam bị áp dụng thẻ vàng với khai thác hải sản từ năm 2018 cũng có tác động bất lợi đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.

Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần áp dụng linh hoạt, trung thực quy tắc xuất xứ, chú trọng quy định, tiêu chuẩn về lao động, môi trường,… để thúc đẩy xuất khẩu hàng thủy sản sang EU.

Dự kiến tác động của các cam kết đối với ngành thủy sản của Việt Nam

Về xuất khẩu

Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đối với ngành thủy sản,dự kiện việc thực thi Hiệp định EVFTA sẽ giúp ngành thủy sản tăng trưởng xuất khẩu khoảng 2% trong giai đoạn 2020 – 2030. Hiện nay, một số mặt hàng thủy sản của Việt Nam khi xuất khẩu sang EU chịu thuế khá cao như tôm hùm đang áp thuế nhập khẩu ở mức 8-20%, thanh cua đang áp thuế 14,2%, cá tuyết thuế suất 13%, tôm hồng áp thuế 12%, các mặt hàng hàu, sò điệp, mực, cá bơn, hải sâm… có mức thuế nhập khẩu từ 8-11%. Do vậy, sau khi Hiệp định có hiệu lực, các mặt hàng sẽ ngay lập tức được xóa bỏ về 0%. Điều này sẽ mang lại lợi thế rất lớn cho các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh như Ấn Độ, Thái Lan, những quốc gia chưa có hiệp định thương mại tự do với các đối tác EU.

Về nhập khẩu

Việt Nam ít nhập khẩu các sản phẩm thủy sản từ EU, vì vậy cơ bản các cam kết loại bỏ thuế đối với sản phẩm này sẽ ít có tác động tới cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nội địa.

Hiệp định sẽ giúp ngành thủy sản có cơ hội thu hút giới đầu tư nước ngoài, hiện đại hóa công nghệ chế biến và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Cơ hội tại thị trường Bắc Âu và Latvia

Theo số liệu của Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, năm 2019, Việt Nam xuất khẩu sang các nước Bắc Âu và Latvia 11,919 tấn, tương đương 71,2 triệu USD, chiếm 0,83% thị phần tổng lượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.

Trong khi đó, hàng năm các nước Bắc Âu và Latvia nhập khẩu lượng thủy sản khá lớn và liên tục tăng qua các năm. Tăng trưởng nhập khẩu thủy sản trong vòng 5 qua đạt trung bình khoảng 6%/năm.

Các nước Bắc Âu và Latvia chủ yếu nhập khẩu các nhóm sản phẩm: cá, tươi hoặc ướp lạnh với lượng nhập khẩu 5,03 tỷ USD năm 2019, chiếm 53% tổng lượng nhập khẩu;  cá phile động lạnh và cá được chế biến bảo quản đạt 1,3 tỷ, chiếm 14% tổng lượng nhập khẩu và cá đông lạnh với đạt 697 triệu USD, chiếm 7% tổng lượng nhập khẩu của các nước Bắc Âu và Latvia.

Nếu không tính nhập khẩu nội khối, trong số các quốc gia ở Châu Á, hiện nay Trung Quốc đang đứng đầu danh sách xuất khẩu vào các nước Bắc Âu và Latvia với khoảng trên 103 triệu USD mỗi năm, tiếp theo là Ấn Độ khoảng trên 11 triệu USD. Đây là các đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam.

Khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh về thuế nhập khẩu với các đối thủ, tạo cơ hội cho cá doanh nghiệp Việt Nam xâm nhập và mở rộng thị phần tại khu vực này.

So sánh với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực này, lợi thế rõ rệt với tôm sú, tôm chân trắng đông lạnh xuất khẩu khi tôm sú được giảm từ mức thuế GSP 4,2% về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực, tôm chân trắng đông lạnh sẽ giảm dần về 0% sau 5 năm, trong khi Thái Lan không được hưởng GSP, không ký FTA, bị mức thuế cơ bản 12%, Ấn Độ không có FTA chịu thuế GSP 4,2%, Indonesia hưởng thuế GSP4,2%, Ecuador thuế cơ bản 12%. Sản phẩm cá tra đông lạnh đang hưởng thuế GSP 5,5% sẽ được hưởng thuế EVFTA 0% sau 3 năm, trong khi các nước Indonesia sẽ vẫn chịu thuế GPS 5,5% và Trung Quốc chịu thuế cơ bản 9%. Đối với sản phẩm cá ngừ, Việt Nam sẽ có cơ hội tốt hơn sau 3 – 7 năm thuế được về 0%, tăng khả năng cạnh tranh với đối thủ lớn nhất là Thái Lan, đang bị áp thuế 18%-24%.

Nguồn: vietnordic.com

Xem thêm tại đây!

Bài viết liên quan

Thúc đẩy nuôi trồng thủy sản Việt Nam bền vững
Ngày 20/01/2018, tại TP. HCM, Khoa Thuỷ sản, Trường Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức Diễn đàn “Đẩy mạnh sự đóng góp nhiều bên cho hợp tác quốc tế về các giải pháp bền vững cho phát triển nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam –...
Diễn đàn “Phòng tránh rủi ro và thu nợ nước ngoài” tại TP Cần Thơ ngày 08/12/2016
Hiệp hội cá Tra Việt Nam thông tin đến Quý Doanh nghiệp Diễn đàn "Phòng tránh rủi ro và thu nợ nước ngoài" do Tạp chí Thuỷ sản tổ chức tại TP Cần Thơ. Theo Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 6 tháng đầu năm...
Hơn 1.400 cơ sở có chứng nhận Bap
FIS - Liên minh nuôi trồng thủy sản toàn cầu (GAA) đã công bố số lượng nhà máy chế biến, trang trại, trại giống và các nhà máy thức ăn chăn nuôi trên toàn thế giới  đạt chứng nhận nuôi trồng thủy sản thực tiễn tốt nhất (BAP) vượt mốc 1.400...
Khóa huấn luyện: Cập nhật kiến thức xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp XNK thủy hải sản
Hiệp hội cá tra Việt Nam cập nhật các thông tin mới đến Quý doanh nghiệp để chuẩn bị cho các báo cáo quyết toán năm 2018 dành riêng cho lĩnh vực thủy hải sản. Các thông tư và văn bản mới thay đổi sẽ được chuyên gia trong lĩnh vực...
Thông tin thị trường cần nhập khẩu Thủy sản Việt Nam
Công ty Nakahara Nhật Bản chuyên nhập khẩu nguyên liệu thực phẩm chức năng, công ty có nhu cầu nhập khẩu mặt hàng bột Colagen từ cá (fish collagen peptide powder). 1. Công ty Nhật Bản cần mua nguyên liệu Fish Colagen Công ty Nakahara Nhật Bản chuyên nhập khẩu nguyên liệu thực...
EVFTA-Cam kết trong ngành thủy sản và cơ hội tại thị trường Bắc Âu
Xóa bỏ ngay khoảng 50% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, trong đó phần lớn các sản phẩm thuế cao từ 6-22% được xóa bỏ về 0% như hàu, điệp, mực, bạch tuộc, nghêu, sò, bào ngư chế biến, tôm sú đông lạnh,… Tình hình thương mại thủy...

Thông tin bản đồ được tài trợ bởi WWF-VietNam